Thứ sáu, 12/06/2026

Vị tướng có tên trong mộng

Thứ năm, 16/04/2026

Bút ký của CHU THỊ PHƯƠNG LAN

 

Đang ngồi trên xe, điện thoại bỗng đổ chuông rộn rã, tôi không lấy ra nghe bởi xe đã xịch đến cổng có biển số nhà tôi cần đến. Đã mấy lần ông điện cho tôi, do nhà ông ở tận Thanh Xuân Bắc, khó tìm nên tôi đến muộn. Tôi tưởng như ngày xưa các bậc Tiên ông thường ở những nơi thật khó tìm để tránh bị nhiều người đến xin điều ước!

Xe vừa đỗ. Cổng xịch mở. Một ông già có mái tóc trắng như mây với gương mặt hiền từ, đức độ đang đợi sẵn.

- Cháu chào bác ạ! Thưa bác, bác chính là Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên? Cháu xin lỗi, vậy mà khi nghe tên Đinh Mộng Tiên, cháu cứ tưởng đây là một vị tướng trẻ thời chống Mỹ, khi leo dãy Trường Sơn lên đến “cổng trời”, ẩn mình trong những áng mây huyền thoại nên khao khát gặp Tiên, ước có phép nhiệm màu đánh nhanh thắng lớn, nên đã đổi tên mình thành cái tên ngồ ngộ mang điều ước - Mộng Tiên! Cùng với tên gọi là những câu chuyện vui cho quên hết cái mệt đường dài, bởi có “Tiên ông xuống núi” truyền cho sức mạnh. Cháu xin lỗi bởi cái “bệnh nghề nghiệp” hay suy diễn, mộng mơ!

- A! Xin chào nữ nhà văn vui tính! Mải mơ mộng lang thang nên đến muộn để cho lão già này đợi mãi. Nhưng, nhà văn suy luận sai rồi. Lên đến cổng trời thì có lần đã đến, nhưng tự đổi tên và mơ ước gặp Tiên thì quả là không. Cái tên mà chị cho là ngồ ngộ lại chính là tên nghiêm túc do người cha đặt cho từ lúc lọt lòng, trước cả khi đi làm giấy khai sinh chị có tin không? Ông già Tiên đưa khách vào nhà, vừa đi vừa vui vẻ nói.

- Thưa bác! Cháu chưa phải là nhà văn mà chỉ là một túp lều bé xíu nên có thể cháu suy diễn chưa thật đúng. Cháu xin bậc “Tiên ông” đại xá.

- Có gì đâu. Chính cái tên Mộng Tiên trong cuộc đời lính trẻ của tôi có nhiều chuyện buồn cười. Khi chuyện tếu, nhiều cậu lính trẻ cứ tưởng tên tôi là tên con gái nên tán suốt cả đêm, hay ra phết. Nhưng đến khi tôi bị ba quả mìn sát thương ở rừng Lào tiện mất cái mông thì cái tên của tôi “báo hại” - Tiện mông! Thế có “đau” không chứ! Trên bàn mổ trong rừng Lào heo hút, bác sĩ vừa cắt xén những mảng mông rách tướp, vừa trách cứ cái tên “báo hại” của tôi và “tiết kiệm” thuốc mê khan hiếm, tôi phải “đánh đổi” cơn đau thành nụ cười nhăn nhó. Từ thuở Điện Biên đến tận bây giờ, cái mông của tôi vẫn còn hằn sẹo. Cách đây hơn chục năm phải mổ lại, tôi cứ tưởng chín phần liệt chỉ còn một phần là hy vọng, bởi mảnh mìn năm xưa còn xót lại, nó năm ở cạnh đám rối thần kinh của xương cụt vô cùng nguy hiểm.

- Chà! Cái tên lại liên quan đến nhiều chuyện ly kỳ. Xin phép bác ta bắt đầu làm việc.

- Xin lỗi chị, để tôi nói nốt về cái tên ngồ ngộ của tôi… Ngày ấy, vào những thập niên đầu của thế kỷ hai mươi, gia đình ông trưởng trạm bưu điện ở thị trấn Quế, huyện Kim Bảng sinh hạ liền bốn cô con gái. Đã có tiếng nói ra nói vào là cần có cậu con trai để nối dõi tông đường. Thấp thoáng mấy cánh bướm dập dờn trước ngõ, báo hiệu sẽ có làn gió lạnh tràn vào nơi tổ ấm ven sông! Vợ ông mang thai lần thứ năm trong phấp phỏng lo âu, có lẽ mình sắp phải đứng xuống hàng thứ yếu! Nhường cái sự nồng nàn cho ai đó sinh cho chồng mình một quí tử đáng yêu!! Nghĩ đến đây, người thiếu phụ thấy lòng mình xa xót!

Đêm thu, trăng vằng vặc soi bóng dòng sông Đáy. Vầng trăng chênh chếch phía Tây. Ánh trăng sáng ùa qua khung cửa sổ đem theo hương quỳnh thoang thoảng vào phòng ông trưởng trạm bưu điện. Trong giấc ngủ chập chờn ông bỗng thấy - Một tờ giấy Hoa Tiên trắng muốt bay vào đậu trên bàn. Tiện tay ông đón tờ giấy và phóng bút đề thơ: “Ánh trăng chênh chếch phía Tây/ Hương quỳnh thoang thoảng ngất ngây trong lòng/ Đã sinh tứ tử thong dong/ Khát khao quí tử, ước mong tháng ngày/ Giờ Thìn nhật nguyệt mai nay/ Nguyện cầu linh ứng, giấy này đề thơ!”

Vừa buông bút, ánh trăng tà gác núi, vầng thái dương rực rỡ bừng lên. Những tia nắng ban mai tinh nghịch nhón tờ giấy Hoa Tiên với những câu thơ thơm mùi mực bay vèo. Ông trưởng trạm bưu điện bừng tỉnh giấc, ngỡ mình vừa gửi thông điệp về trời. Ông bâng khuâng như có hẹn trong lòng, chờ đợi!

Bữa sáng vừa xong. Vợ ông chuyển dạ… Đứa con lớn tất tả chạy đi tìm bà đỡ. Trong lúc đợi chờ, ông tưởng như có một con Rồng vàng đậu xuống dòng sông Đáy, những chiếc râu Rồng chạm vào song cửa sổ, nơi có tờ giấy Hoa Tiên vừa biến mất khỏi bàn. Ông bỗng ngơ ngẩn tiếc! Vừa lúc, tiếng trẻ thơ lọt lòng mẹ oa oa nghe khỏe mà vang. Bà đỡ reo lên hay tiếng lòng ông rộn rã! - Con trai rồi! Con trai! Đúng giờ Thìn rồi nhé - Con trai mình từ trong mộng bước ra - Mộng Tiên! Mình sẽ đặt tên con trai mình là Mộng Tiên - Đinh Mộng Tiên! Vừa nghĩ vậy ông vừa bước sang phòng bà đỡ. Cậu con trai kháu khỉnh chào đời trong buổi sáng mùa thu - Con út Đinh Mộng Tiên của cha!

- Chị nhà văn vui tính! Đây là tất cả câu chuyện về cái tên ngồ ngộ của tôi, chị bảo có nghiêm túc hay không?

- Chà! Câu chuyện của bác cứ như trong cổ tích. Ngày ấy, người cha của bác đã dùng tờ giấy Hoa Tiên để đề thơ ngay trong giấc mộng. Còn giờ đây, tập giấy của cháu sẽ viết về cả chặng đường chiến đấu gian nan của người chiến sĩ - một vị tướng có cái tên ngồ ngộ - Đinh Mộng Tiên. Ba quả mìn của Pháp và rất nhiều bom đạn Mỹ cũng không cướp đi được sinh mạng của một người chiến sĩ ngoan cường. Xin phép bác, ta bắt đầu ngược trở về những cuộc trường chinh.

                                           *  * *

Ngày mồng 2/9/1929 cậu bé Tiên sinh ra trong cái nôi Cách mạng của quê mình. Ngày 6/3/1930, thầy giáo Nguyễn Văn Đạt ở trọ nhà ông bác ruột của Tiên đứng lên thành lập chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Chi bộ gồm có ba người - Ông Đạt là Bí thư, ông Chu Khắc Hướng (ở xã Phù Vân) cũng là giáo học và ông Bùi Khiết ở xã Khả Phong là kỳ hào kỳ mục. Từ đấy, phong trào Cách mạng trong vùng được nhen nhóm và phát triển

Năm 1932 - 1933, Tây đánh hơi thấy ông Đạt là Cộng sản nên điều ông đi dạy học ở Bắc giang. Ông Bùi Khiết là kỳ hào kỳ mục che mắt được quân thù nên bám trụ ở trong vùng. Ông bác họ Lê Minh Đường làm Trưởng bạ và anh họ Hoàng Trọng Cầu làm thợ xẻ là người giác ngộ Cách mạng cho Tiên khi Tiên mới 13 tuổi. Học xong tiểu học, Tiên ở nhà học chữ nho, Tiên đã nhận tài liệu về cất giấu ở trong nhà.

Năm 1944, Tiên xuống Nam Định học trường Thành Chung.

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, Tiên bỏ học về quê, chính thức tham gia hoạt động Cách mạng. Lúc này ông Lê Huy Thành là Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Hà Nam (Sau này ông Lê Huy Thành là một trong hai Đại biểu Quốc Hội trẻ nhất - Đó là ông Lê Huy Thành và ông Nguyễn Đình Thi, ông Lê Huy Thành là Ủy viên Trung ương Đảng)         

Phong trào Cách mạng ở Kim Bảng bắt đầu phát triển, Tiên bỏ học về quê, chứng kiến bọn ác ôn đàn áp dân lành. Tiên đã cùng các anh hoạt động Cách mạng phục kích đánh trả bọn cai cơ, cai lệ. Rồi Tiên được cử vào châu Lạc Thủy dựng phong trào. (Sau này châu Lạc Thủy được cắt về tỉnh Hòa Bình). Mấy ngày sau, Tiên được gọi về cử đi học trường Quân Chính trên Hà Nội… Đây là khởi đầu cho chặng đường Tiên cất bước đi xa.

Tiên bắt đầu say mê học tập, và cảm thấy lòng ham học của mình đã được đền đáp, không còn bị dở dang vì cuộc chiến. Chẳng học phổ thông thì học cách đánh ngoại xâm ra khỏi đất nước mình. Vậy mà mới học được hai tuần, đùng một cái, bọn Pháp lại gây hấn ở Nam bộ. Miền Nam xa xôi mà gần gũi. Lửa nhiệt tình Cách mạng hừng hực trong mỗi trái tim hồng của các chàng trai trường quân chính. Ai cũng mong mình được thẳng tiến vào Nam để đánh đuổi lũ ngoại xâm. Trường học cử một đoàn phiên chế thành nhiều tiểu đội lập tức lên đường. Đinh Mộng Tiên bé mà nhanh nhẹn nên được cử làm Tiểu đội phó. Đoàn cán bộ của trường Quân chính gồm 72 người lên đường Nam tiến ngày mồng 3/10/1945, tăng cường cho phong trào Cách mạng của miền Nam, vào Phan Rang, Phan Thiết, Tiên được cử làm Trung đội trưởng, song Tiên thấy mình con nhỏ (mới 16 tuổi khai tăng lên 18), không đảm đương nổi nên không nhận, rồi anh được cử làm Chính trị viên Trung đội. Trận đánh đầu tiên vào đồn thù lại đối đầu với Nhật bởi Nhật đảo chính Pháp, chúng vào để tiếp quản từ tay Pháp. Bọn Nhật chống trả quyết liệt, xong chúng rút lên Đà Lạt. Trung đội của Tiên được điều lên Đà Lạt truy đuổi giặc. Xong lại về Cam Ranh như một đơn vị cơ động.

Ngày 6/3/1946, Pháp ký Hiệp định Sơ bộ. Đồng minh tước vũ khí của Nhật. Ta kết thúc đợt chống trả với Nhật.

Sau Hiệp định, Pháp trở mặt. Chúng đàn áp đẫm máu phong trào Cách mạng ở khu V. Tiên cùng hai cán bộ trường Quân chính bị sốt rét, ốm đau phù thũng được đưa từ khu V ra Cam Ranh định chờ về Bắc. Gần sáng nghe tiếng súng nổ, bọn Pháp chụp ảnh được cả nhóm của các anh đang họp. Các anh bị bắt. Một số anh khỏe mạnh, trắng trẻo được tha vì chúng cho là trí thức không tham chiến. Mấy anh sốt rét, ghẻ lở, chúng tin là ở trên rừng xuống nên bị chúng đưa vào phòng giam, ăn cơm gạo mục với cá khô thối, các anh càng phù thũng.

Bọn cai tù toàn là lính phản chiến, chúng là lính lê dương, là người nước ngoài. Mấy tên lính Pháp nói với các anh: “Chúng mày có biết tại sao chúng tao đánh Đông Dương không? Vì chúng mày nhiều gạo, nhiều hoa quả, cao su…”. Một hôm chúng dẫn một anh bộ đội còn nguyên quân phục vào phòng giam để “nhận diện” những người tù của mình. Chúng đánh đập anh tàn ác, anh chỉ nhìn, không nói. Rồi chúng dẫn anh đi.

Một hôm khác, chúng dẫn một người ăn mặc sang trọng (quần soóc, áo sơ mi) vào phòng giam giới thiệu - Đây là con nuôi tao! Đó là Tân - Cùng đoàn Nam tiến với Tiên. Hai người ngầm nhận ra nhau. Tiên chờ sự tra khảo vào mấy ngày sau đấy, nhưng không thấy. Tân không hề phản bội.

Khoảng một tuần sau, bọn Pháp công bố sẽ phóng thích tù nhân. Bọn Bắc kỳ sẽ được trả về Bắc. Nhưng thực chất là chúng dồn xuống thuyền rồi đưa ra biển thủ tiêu. Trong đoàn có chị mang bút danh là Đào Thị Thu Tâm là vợ ông Trần Huy Liệu, chị viết bài phóng sự “Chiến trường miền Nam có gì lạ?” Chị đã đưa Tiên đọc. Tiên thấy một tên sĩ quan Pháp có vẻ mặt buồn buồn, có ánh mắt nhìn xa xăm để tránh không nhìn vào những người tù ốm yếu. Sau đấy thuyền của Tiên được cặp vào Phú Yên, không bị thủ tiêu ngoài biển như những thuyền đi trước. Anh Nguyễn Sơn là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam ở Phú Yên đã ký giấy cho Tiên đi điều trị ở Huế. Khi khỏi ốm, Tiên cùng số anh em ngoài Bắc được đưa về Bắc, trong đó có anh Trần Kiên sau này làm Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân.

Năm 1947, Tiên trở về hoạt động ở Kim Bảng. Tháng 5/1947, Tiên được kết nạp vào Đảng khi gần tròn 18 tuổi. Tháng 9/1947, Tiên được đặc cách công nhận đảng viên chính thức, được phân công làm Bí thư Đảng đoàn bên Dân vận. Năm 1949, Đại hội Huyện Đảng bộ, Tiên được bầu vào Ủy viên chính thức.

Năm 1950, Tiên được trả về quân đội, được đi học lớp Chính trị viên, rồi được đi học bên Trung Quốc một năm. Khi về nước, anh được phiên chế vào Trung đoàn 36 và làm Trung đoàn trưởng, tham gia chiến dịch Hòa Bình, chiến dịch Tây Bắc. Chiến dịch Điện Biên, Tiên làm Chính trị viên phó Tiểu đoàn 80 - Tiểu đoàn chủ công của Trung đoàn 36.

Địch đánh hơi là sẽ bị tấn công nên chúng có kế hoạch rút chạy sang Luông Pha Băng, kinh đô của nước bạn Lào. Lập tức Đại đoàn 308 phải đi tạt sang cánh rừng Lào, chuẩn bị đánh tan kế hoạch của kẻ thù. Với phương châm ép địch phải ém quân ở Điện Biên. Trên đường đi, gặp địch ở đâu là đánh và truy quét đến cùng. Với ý chí quyết chiến quyết thắng, lửa nhiệt tình bừng sáng trong tim, cả Đại đoàn hành quân suốt ngày đêm không nghỉ. Một nắm cơm cùng với gạo rang tiếp sức đường dài. Tiểu đoàn 89 đi trước gặp địch và chiến đấu ngoan cường ở rừng Lào. Đến tối ngày 7/2/1954, Tiểu đoàn 89 được lệnh dừng lại để củng cố. Các tiểu đoàn khác vượt lên… Chính trị viên phó Đinh Mộng Tiên được cử vượt lên trước đoàn quân để truyền đạt mệnh lệnh. Trên đường rút quân của địch, những nhà dân bị chúng đốt vẫn còn leo lét cháy. Nguy hiểm hơn, chúng còn đặt mìn sát thương để chặn bước tiến của quân ta. Tiên vừa truyền đạt mệnh lệnh cho Tiểu đoàn phó xong và vội vượt lên, bỗng, một tia chớp từ dưới đất lóe lên phía trước. Một tiếng nổ lớn cách chừng 5 - 6 mét. Tiên cố nhìn xem điều gì đã xảy ra. Rồi, ánh chớp giật lóe lên bên phải và bên trái. Cùng lúc, ba ánh chớp chói lòa hình nanh sấu kèm theo ba tiếng nổ xé tai khóa chặt lấy Tiên. Anh thấy rát ở mông và tê dại, ngã ngồi xuống cát, đưa tay sờ chỗ nào cũng thấy đầm đìa máu… Nghe đồng đội gọi tên, Tiên nói to - Mình bị thương rồi! Anh em bị nhiều lắm đấy. Đưa bông băng lên đây! Nói rồi anh ngất lịm giữa rừng Lào giá rét bên sông.      

Ở trạm cấp cứu tiền phương, Tiên hồi tỉnh trong tiếng nói thân quen và những nhát kéo cắt phần mông bị nát.

- Báo hại cái tên ông, bởi Mộng Tiên nên nó đã tiện mất cái mông của ông rồi đấy.

Mắt vẫn nhắm nghiền, nghe tiếng nói hài nhưng vẫn đượm nỗi niềm thương cảm, Tiên nhận ra anh bạn Lê Kim là cán bộ Tuyên huấn của Trung đoàn đang có mặt ở đây. Anh biết mình đã được cứu sống trong vòng tay đồng đội. Anh cũng biết mình không còn cơ hội để tham gia chiến dịch Điện Biên!

Sau mấy tháng điều trị, anh trở về làm Trưởng Ban hành chính, rồi làm công tác chính trị của Trung đoàn. Tháng 10/ 1954, Trung đoàn về tiếp quản thủ đô, Tiên được làm Bí thư liên chi, rồi anh được rút lên làm tuyên huấn. Đến năm 1961, anh được cử đi học trường Cao cấp Chính trị ở Liên Xô, trực thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Khi học trong trường, Tiên đã được gặp anh em châu Phi, họ rất quí anh em Việt Nam. Họ nói: “Vì Việt Nam có Hồ Chí Minh!”

Tốt nghiệp về, Trung ương rút Tiên ra khỏi quân đội, đưa anh vào Ban liên lạc đối ngoại, chuyên nghiên cứu về Đảng Cộng sản Liên Xô. Đang làm tốt công việc, đùng một cái Mỹ ném bom miền Bắc! Tiên liền xin trở lại quân đội. Lúc này Trung ương chưa chấp thuận và cho ý kiến: “Nếu do yêu cầu chiến đấu thì Trung ương cho, còn nếu về Tổng Cục chính trị thì cho người khác”. Đúng lúc ấy, Đại đoàn 308 xin Tiên về, phong quân hàm Thiếu tá và cử anh làm Chính ủy Trung đoàn 88. Sau ba năm, Trung đoàn cử anh đi Nam, xây dựng Trung đoàn mới. Năm 1968, cả Trung đoàn hành quân vào Nam, cùng Trung đoàn 304 ở Khe Sanh chiến đấu với đội quân tinh nhuệ Mỹ. Chỉ trong ba ngày, đơn vị của Tiên tiêu diệt gần hết Tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ (lính thủy đánh bộ Mỹ).

Năm 1971, Đinh Mộng Tiên được rút về làm cán bộ nghiên cứu, Trưởng phòng giáo dục nhà trường, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị, rồi lại cùng đơn vị vào đánh ở Đường 9 Nam Lào. Sau đấy anh lại trở ra Bắc.

Năm 1979, Đinh Mộng Tiên được cử đi học ở Học viện Quốc phòng. Ra trường, ông được cử làm Cục Phó Cục Tuyên huấn với quân hàm Thượng tá. Tháng 3/1979, Đinh Mộng Tiên được cử sang Campuchia giúp bạn làm công tác tiền phương của Cục Tuyên huấn. Sau một thời gian, Trung ương thấy không nên để là Cục Tuyên huấn mà đổi là Bộ Tư lệnh Tiền phương. Lúc này ông được cử giữ chức Phó Chủ nhiệm cơ quan Chính trị - Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam. Ông được phong quân hàm Đại tá năm 1981. Ít lâu sau, đồng chí Lê Khả Phiêu lên làm Chủ nhiệm Chính trị, vì đồng chí chuẩn bị lên cấp Tướng.

Năm 1984, Đại tá Đinh Mộng Tiên sang làm Phó Trưởng đoàn Chính trị Đoàn chuyên gia quốc phòng - Quân đội nhân dân Campuchia.

Tháng 12/1985, ông được phong quân hàm Thiếu tướng khi ông đang ở đoàn 487 trên đất Campuchia anh em

Tháng 10/1987, ông được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ tư lệnh 719, giúp ông Lê Khả Phiêu chuẩn bị cho đợt rút quân tình nguyện Việt Nam lần thứ 6.

Sau những tháng năm dài xông pha trên khắp các chiến trường khói lửa của nước bạn, công việc cuốn hút, ông đã quên mình vì công việc. Tháng 12/1987, ông đã bị đột quỵ vì kiệt sức… Ông được đưa về điều trị ở Quân y viện 175 tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau 7 ngày hôn mê sâu không tỉnh. Ông đã được các bác sĩ hộ tống đi máy bay ra Quân y viện 108 ngoài Hà Nội. Ba tuần tiếp theo ông vẫn hôn mê, không tỉnh. Khi vợ ông chăm sóc, thấy ông bị hôn mê sâu và đi giải rất nhiều, bà nói giống như mẹ của bà ngày trước, cụ đã được các bác sĩ tiếp nước và truyền huyết thanh. Bà cụ dần khỏi bệnh và thọ hơn 90 tuổi. Bác sĩ Viện phó Phạm Tùng Dương là người biết lắng nghe, bác sĩ trực tiếp truyền huyết thanh cho người bệnh và đợi phép nhiệm màu. Quả nhiên, hai ngày sau, Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên dần dần hồi tỉnh khi nghe giai điệu “Đất nước lời ru!”. Bài hát được ca sĩ Vi Hoa hát mà ngày trước ông rất thích. Vậy là, bằng tình thương yêu của người vợ hiền, cùng với tinh thần tận tụy, tận tâm của tập thể các thầy thuốc ở bệnh viện 108, đặc biệt là bác sĩ Phạm Tùng Dương. Kết hợp với giai điệu ngọt ngào của lời ru tha thiết từ trong lòng đất nước đã gọi Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên đang hôn mê sâu từ cõi chết trở về! Ông tưởng như mình vừa được Mẹ Tổ quốc tái sinh, đưa ông từ nước bạn Campuchia trở về nước Việt nghe câu hát thiết tha sưởi ấm lòng người khiến ông không thể lặng lẽ ra đi!!! Và ông đã trở về trong những phép nhiệm màu như thế!

Tuổi cao, nhưng trí nhớ của ông còn minh mẫn. Ông nói về những kỷ niệm khó quên trình tự không xáo trộn…

Khi tiếp quản Thủ đô, Tiên được cử làm Trưởng Ban hành chính. Đêm mồng 9/10/1954, anh nghỉ ở nhà một bà cụ bên Chương Mỹ. Cả đêm không ngủ. Sáng sớm ngày 10/10, Tiên cùng Chính ủy đi trên một chiếc ô tô tải vào Hà Nội. Từ trên xe, các anh cúi xuống đón những bó hoa tươi thắm của các chị, các em đưa lên, anh cảm thấy lòng dạt dào hạnh phúc. Nhớ ngày nào trên Tây Bắc, đứng trên đỉnh núi cao vời vợi ngóng về xuôi mà khao khát ước mong ngày trở lại. Vậy mà hôm nay, chính mình lại được nhận trọng trách Trưởng Ban hành chính, lo công việc gọi là “bếp núc” trong quá trình tiếp quản. Là chủ nhân của thủ đô ngàn năm văn hiến đã sạch bóng quân thù. Lúc này, anh muốn gấp đôi tấm bản đồ có hình chữ S, cho hai đầu đất nước gặp nhau, cho Nam Bắc không còn xa cách bởi nhịp cầu thương nhớ!

Hạnh phúc chưa trọn vẹn. Anh lính Cụ Hồ cùng toàn dân tộc lại phải dấn thân vào cuộc chiến tranh hơn hai mươi năm đầy ác liệt, cam go mới được hát “Bài ca Thống nhất!”. ..

Giọng trầm trầm, vị Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên 86 tuổi đã trải qua bao biến cố thăng trầm. Ông thấy cuộc đời mình có nhiều điều kỳ diệu mà cho đến nay ông cũng chưa thể nào lý giải.

Là con út nhưng là con trai duy nhất. Nghe mẹ ông kể lại - Khi cậu mới sinh được 20 ngày, trên đỉnh đầu bỗng có một cái u lớn rất nhanh, chẳng mấy đã to bằng quả trứng. Xuống nhà thương, họ bảo đấy là u máu lành tính, hút hết ra là khỏi. Tiền thuốc bằng tiền bán một lứa lợn. Một sự may mắn ngay từ tuổi ấu thơ.

Lần thứ hai khi ở Cam Ranh năm 1947, đơn vị của anh ở dãy nhà gianh. Một đồng chí ở dãy nhà xây phía bên kia đường chạy sang báo - Có xe tăng địch. Mọi người lo lắng. Tám chiếc xe tăng tiền vệ của quân Pháp đi qua, may có hàng rào dâm bụt che khuất nên chúng không nhìn thấy. Mọi người thót tim.

Lần thứ ba khi Tiên bị sốt rét ác tính, người nóng rừng rực không thể nào chịu nổi. Anh lần đi và gục ở bờ rào. Có ai đó đi qua đưa anh đến trạm quân y. Anh được cứu sống.

Khi ba anh em Hoàng, Kiên, Tiên bị địch bắt, lúc ấy Tiên ít tuổi nhất, hai anh nói - Nếu bị giết thì Tiên nó còn trẻ quá, mới 17 tuổi. Thật tội nghiệp cho em! Vậy nên, thần chết đã quay đi. Khi ở tù, đi đắp ụ súng cho địch, Tiên đã gặp những người lính Đức phản chiến. Họ rất tốt… Có lần anh gặp người Tiểu đội trưởng của địch bỏ ngũ bị anh tước súng. Anh bảo nếu không theo bộ đội thì hãy về quê. Khi gặp lại, Tiên chờ sự trả thù. Không thấy!

Cũng ở trong tù, một hôm các anh đi dọn kho cho sở mật thám, có một người “phía họ” dúi cho một nắm tiền. Các anh chờ sự trừng trị - Không có! Đó là lòng tốt của mỗi con người đối với đồng loại.

Khi những người tù có quê hương ngoài Bắc, địch nói là cho về Bắc, song có những thuyền đưa ra ngoài biển đã bị chúng thủ tiêu. Riêng thuyền của Tiên trước khi rời bến, Tiên thấy tên chỉ huy nhìn vào cõi xa thẳm đăm chiêu. Có thể lòng tốt của anh ta bừng thức! Thuyền của anh Tiên được trở về, an toàn cập bến!

Từ tất cả những tấm lòng tốt ấy đã cho anh tin vào cuộc Cách mạng nhất định thắng lợi.         

Một lần khác, may mắn lại che trở cho anh. Hôm ở Tây Bắc, máy bay Pháp thả bom tạ. Quả bom rơi qua cành cây, rơi xuống một hòn đá lớn. Bom không nổ. Cả Ban chỉ huy thoát chết. Thót tim!

Hồi Tiên bị thương ở rừng Lào, ba quả mìn sát thương cài nanh sấu nổ gần, hai đồng chí hy sinh. Tiên bị thương nặng nhưng không chết. Chỉ bị đứt dây chằng chân nhưng không vào xương nên không bị cưa chân. Bị mất một vè xương sống nhưng không vào tủy sống nên không bị liệt. Những quả mìn chỉ “nắn gân” chàng trai có cái tên như một phép nhiệm màu “Mộng Tiên!”. 

Năm 1999, vết thương do mảnh mìn ở rừng Lào (còn sót lại) tái phát, ông bị liệt nửa người phía dưới. Ông đề nghị mổ. Tiến sĩ bác sĩ Nguyễn Tín đã mổ cho ông, lấy được một lít rưỡi máu, mủ. Ông tưởng mình sẽ bị liệt vĩnh viễn. Vậy mà ông vẫn thoát, không để lại di chứng.

Với ánh mắt rất hiền, ông nhìn tôi và nói:

Cả đời ông có bốn lần tập đi. Lần thứ nhất ở tuổi ấu thơ, theo qui luật - Chín tháng lò dò tập đi.

Lần thứ hai khi bị thương ở rừng Lào, sáu tháng sau, hồi phục - Ông tập đi. Lần thứ ba sau đột quị, tỉnh lại ở viện 108, vợ ông dắt ông tập đi. Lần thứ tư sau khi liệt nửa người, mổ xong - Ông tập đi.

Ông vẫn nhìn tôi với ánh mắt rất hiền. Ông nói đôi lời nhắn gửi vào lớp trẻ. Ông có lòng tin sâu sắc vào quân đội nhân dân. Cứ cống hiến tốt, nhất định những điều tốt sẽ đến với mình. Khi mới bắt đầu tham gia hoạt động Cách mạng, ông không nghĩ sau này mình sẽ thành ông tướng. Cái gì đến, nó sẽ đến với mình.

Ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì. Huân chương Hữu nghị Campuchia. Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba… Huy hiệu 65 năm tuổi đảng năm 2012 và nhiều phần thưởng cao quí khác.

Rút trong tác phẩm "Hà Nam-Danh tướng và Anh hùng"

                        Phủ Lý ngày 09/02/2026

(Nguồn: TC VNNB số 318 - 04/2026)

Bài viết khác